Mẹo vặt y khoa

Thảo dược quý giúp Bổ gan, giải độc gan, bảo vệ tế bào gan

Thảo dược quý giúp Bổ gan, giải độc gan hiệu quả

Những loại cây này rất dễ tìm thấy nhưng lại là vị thuốc quý trong y học, giúp giải độc gan, hỗ trợ điều trị bệnh viêm gan rất hiệu quả.
Tuy nhiên theo các chuyên gia về Y học cổ truyền nên kết hợp các vị thuốc này với nhau để gia tăng hiệu quả điều trị các bệnh về Gan.

1. Gừng

Gừng là loại gia vị tự nhiên nổi tiếng chứa các hoạt chất chống viêm và giải độc. Chính vì thế, gừng là một trong những liệu pháp hữu hiệu nhất hỗ trợ điều trị gan nhiễm mỡ.

Ngoài ra, các chất gingerol tạo vị cay nồng trong gừng sẽ có tác dụng như một chất chống oxy hóa mạnh mẽ, ngăn chặn sự tích tụ chất béo lipidtrong gan. Đồng thời chúng còn giúp chống lại các nguyên nhân gây ra bệnh mất cân bằng oxy hóa.
Để áp dụng tận gốc công năng của gừng trong việc giải độc gan nhiễm mỡ, hãy tự chế biến nước trà gừng thơm ngon và thưởng thức chúng 3 lần mỗi ngày. Hãy áp dụng đều đặn trong 2 tuần, bạn sẽ thấy được sự khác biệt rõ rệt.

2. Nước ép củ cải

Trong củ cải có chứa rất nhiều các chất chống oxy hóa giúp phá vỡ các mảng chất béo dư thừa tích tụ trong gan, cải thiện khả năng tự giải độc của gan.
Ăn củ cải sẽ giúp bạn kiểm soát được mức cholesterol và triglyceride ở trạng thái cân bằng. Ngoài ra, bạn có thể tiêu thụ củ cải bằng cách khác như chế biến thành nước ép củ cải.
Rửa sạch một ít củ cải, sau đó cắt ra và cho vào máy xay sinh tố, thêm chút nước và xay cho đến khi hỗn hợp mịn. Chuyên gia khuyến cáo nên dùng nước ép này mỗi ngày để đạt hiệu quả ở mức tốt nhất.

3. Cải cầu vồng


Chế biến cải cầu vồng thành một món trà sẽ giúp tập trung tối đa các chất chống oxy hóa và giải độc, từ đó hỗ trợ cải thiện chức năng gan, tăng cường sự tiêu thụ các hợp chất chất béo, đồng thời loại bỏ các độc tố ảnh hưởng đến lá gan.
Mọi thứ bạn cần làm đó là rửa sạch rau cải cầu vồng, sau đó cho vào nồi nước và đun nhỏ lửa trong 5 phút. Chắt lấy nước trà và thưởng thức. Khuyến cáo nên sử dụng 2-3 ly trà cải cầu vồng trong 2 tuần.

4. Nước ép bưởi chùm

Một trong những hợp chất chứa nhiều nhất trong bưởi chùm chính là naringenin. Đây là một trong những chất chống oxy hóa mạnh mẽ có tác dụng lợi tiểu, thúc đẩy loại bỏ các chất độc dư thừa và kiểm soát nguy cơ gây viêm.
Bên cạnh đó, bưởi cũng có khả năng chống lại các triệu chứng của Hội chứng chuyển hóa, một tình trạng có liên quan đến gan nhiễm mỡ và sự béo phì không kiểm soát được.
Để áp dụng bưởi chùm, hãy vắt nước 6 trái bưởi hòa cùng với 1 thìa mật ong và thưởng thức. Tốt nhất nên uống nước ép bưởi chùm khi dạ dày rỗng. Thực hiện đều đặn ít nhất trong 2 tuần.

5. Cây kế sữa

Cây kế sữa cũng là một trong những thành phần có chức năng giải độc gan nhiễm mỡ tốt nhất. Những thành phần trong cây không chỉ giúp bảo vệ tế bào gan mà còn chống các tình trạng viêm xuất hiện, giảm sự tích tụ lipid trong gan.
Những gì bạn cần làm chính là tự pha chế trà cây kế sữa từ hạt của chúng. Hoặc nếu muốn tiện lợi hơn, hãy tìm những loại thực phẩm chức năng được làm từ cây kế sữa cũng rất hiệu quả. Hãy dùng trà mỗi ngày một lần để có những hiệu quả tốt nhất.
Tất cả các phương pháp điều trị trên đều có những ảnh hưởng rất tích cực trong việc điều trị gan nhiễm mỡ. Nhưng bên cạnh đó, đừng quên điều chỉnh lại chế độ dinh dưỡng và luyện tập hợp lí, khỏe mạnh cho chính cơ thể của bạn.

6. Nhân trần


Là một loại cỏ mọc hoang ở vùng đồi, ruộng khắp nơi trên đất nước ta. Nhân trần có tác dụng tăng tiết mật và tăng giải độc của gan. Ngoài ra còn có tác dụng chống viêm và kháng khuẩn. Nước sắc nhân trần được dùng rộng rãi trong nhân dân để chữa sốt, bệnh gan, hồi phục sức khỏe sau đẻ. Cũng dùng kết hợp với quả dành dành chữa bệnh viêm gan vàng da.

7. Diệp hạ châu:

Hay còn gọi là cây chó đẻ răng cưa. Đây là một loại thảo mộc giúp làm mát gan, mát máu, giải độc cho gan, giúp ngăn chặn quá trình phát triển của các loại virus như virus viêm gan B, C.
Theo Đông y, diệp hạ châu có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, quy vào kinh can, phế, có công năng tiêu độc, lợi mật, hoạt huyết. Diệp hạ châu được dùng điều trị viêm gan hoàng đản, viêm họng, mụn nhọt, viêm da thần kinh, viêm thận, phù thũng, sỏi tiết niệu. Liều lượng, ngày 8-20g, sắc uống.

8. Actiso

Atiso được xem là thần dược của bệnh gan vì nó có tác dụng làm sạch các độc tố trong gan, làm mát gan giúp da rẻ mịn màng vầ hết mụn.
Lá actiso chứa các acid hữu cơ, các hợp chất flavonoid… Hoa actiso chứa nhiều taraxasterol và faradiol, là những chất có tác dụng ức chế viêm khá mạnh. Cao actiso có tác dụng bảo vệ gan, lợi mật, hạ cholesterol… nên được dùng trị viêm gan, viêm túi mật hoặc chức năng của gan mật kém, sỏi mật.

9. Mật nhân

Đây là vị thuốc chữa được nhiều bệnh nên gọi là cây bách bệnh. Theo kinh nghiệm dân gian, vỏ và lá dùng để chữa ăn uống không tiêu, đau mỏi lưng, đau nhức mình mẩy, giải rượu mạnh. Mật nhân còn có tác dụng làm hạ men gan và bảo vệ tế bào gan trên một số mô hình thực nghiệm động vật, chính vì có tác dụng bảo vệ gan tốt và chuyên trị các bệnh về gan mật nên có tên Mật nhân (cây mật người).
Cây mật nhân còn có một tác dụng đặc biệt khác, đó là kích thích sản xuất nội tiết tố testosterone ở nam giới và làm tăng miễn dịch mạnh. Testosteron kích thích chuyển hóa, đốt cháy mỡ thừa, tăng tạo hồng cầu và tăng tạo cơ.

10. Cà gai leo

Theo y học cổ truyền, Cà gai leo có tính ấm, vị hơi the, có tác dụng tiêu độc, tán phong thấp, trị rắn cắn và đặc biệt là có công dụng giải rượu, giải độc gan, trị gan nóng, gan yếu rất hữu hiệu. Theo kinh nghiệm dân gian của người Tây Bắc, loại cây này có tác dụng giải rượu mạnh, đến nỗi cánh mày râu chỉ cần chà răng hoặc ngậm rễ cà gai leo trước khi uống rượu là sẽ tỉnh táo, lâu say. Còn khi say rượu chỉ cần sắc thân và lá uống sẽ nhanh chóng tỉnh rượu. Đồng bào dân tộc Tây Nguyên tận dụng triệt để loại cây này và thường phơi khô, tích trữ chúng trong nhà để trị các trường hợp chữa bệnh gan với biểu hiện chướng bụng, vàng mắt vàng da, mệt mỏi, táo bón, ăn uống không tiêu…

11. Diệp hạ châu

Cây chó đẻ răng cưa (diệp hạ châu) có tác dụng bảo vệ gan, giảm nguy cơ nhiễm độc gan (nguồn ảnh: internet)
Diệp hạ châu thường được gọi là cây chó đẻ răng cưa, tên khoa học Phyllanthus urinaria L., thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae. Dân gian còn gọi là trân châu thảo, diệp hòe thái, lão nha châu… Chúng mọc phổ biến ở nông thôn tại những vùng đất ẩm.
Theo Đông ý, diệp hạ châu có vị đắng, hơi ngọt, tính mát. Tác dụng nổi bật nhất của diệp hạ châu là thanh can, giải độc gan, hỗ trợ chữa viêm gan siêu vi trùng.
Cây chó đẻ là loại thảo dược không thể thiếu trong các bài thuốc chữa viêm gan, viêm gan do virus B. Ngoài ra cây còn có tác dụng bảo vệ gan cho những người uống rượu bia nhiều, thanh lọc cơ thể, giảm nguy cơ nhiễm độc gan.
Một cách sử dụng đơn giản nhất là dùng cây chó đẻ răng cưa phơi khô, sao vàng rồi đun lấy nước uống hằng ngày. Tuy nhiên, không nên sử dụng quá nhiều trong ngày do diệp hạ châu có tính mát, lạm dụng chúng sẽ gây lạnh gan, dẫn tới xơ gan.


Người có bệnh gan nên tìm ngay những cây thuốc dân giã này. Những loại cây này rất dễ tìm thấy nhưng lại là vị thuốc quý trong y học, giúp giải độc gan, hỗ trợ điều trị bệnh viêm gan rất hiệu quả.

Lưu ý: 

Theo các chuyên gia Y học cổ truyền chuyên nghiên cứu các vị thuốc và bài thuốc chữa bệnh Gan khuyên rằng nên sử dụng kết hợp các vị thuốc với một tỷ lệ phù hợp để đảm bảo tăng hiệu quả điều trị bệnh và giảm thiểu các tác dụng không mong muốn của thuốc. Không nên lạm dụng các vị thuốc uống hàng ngày hoặc quá liều lượng sẽ gây phản tác dụng.
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các sản phẩm Đông và Tây y điều trị các bệnh lý về Gan. Tuy nhiên có một chế phẩm đông y Phục Can Khang An Thịnh được nghiên cứu và phát triển của PGS.TS Nguyễn Thế Thịnh - Giảng viên Cao cấp Học viện Y Dược cổ truyền Việt Nam với sự kết hợp các thành phần vị thuốc theo một tỷ lệ thích hợp đã chứng minh trên thực nghiệm lâm sàng cho kết quả tốt.

PHỤC CAN KHANG AN THỊNH - Hỗ trợ bảo vệ tế bào gan, giúp tăng cường chức năng gan
PHỤC CAN KHANG AN THỊNH là chế phẩm được bào chế từ các dược liệu:  Sài hồ, Đẳng sâm, Nhân trần, Sinh khương, Bán hạ, Diệp hạ châu, Củ móp, Chi tử, Hoàng cầm, Cam thảo, Đại táo
Tác dụng phục can khang: Bổ gan, giải độc, hỗ trợ bảo vệ tế bào gan. Giúp phục hồi và tăng cường chức năng gan mật trong các trường hợp: viêm gan cấp và mạn tính, xơ gan, tăng men gan do ngộ độc, do rượu, rối loạn chuyển hóa lipid máu
 Trong đó: Củ móp gai có tính mát, vị cay, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, lợi niệu, tán ứ... Ngoài được sử dụng làm rau ăn thì củ móp gai còn được dùng để chữa bệnh trong các trường hợp:
- Chữa viêm gan vàng da, suy gan, viêm gan B, xơ gan cổ trướng.
- Chữa vàng da,suy nhược cơ thể,sốt rét.
- Trị ho do viêm phế quản, nước tiểu vàng, màu đậm.
- Thanh nhiệt, giải độc.
- Chữa lỡ ngứa ngoài da, trẻ nhỏ da lở loét do thai độc.
Diệp hạ châu có tác dụng: lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng.
Sài hồ: Bảo vệ gan và lợi mật, Hạ mỡ trong máu

{jcomments on}

Sản phẩm Phục Can khang có tác dụng phòng và hỗ trợ điều trị viêm gan, suy giảm chức năng gan, thanh nhiệt, giải độc gan và bảo vệ gan. Ngoài ra, Phục Can khang còn hỗ trợ điều trị các triệu chứng: Nám da, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa, dị ứng, mụn nhọt, mẩn ngứa, mề đay do rối loạn chức năng gan, viêm gan gây ra.
Sản phẩm Phục Can khang Nhuận gan - Lợi mật của Công Ty còn có mặt rộng rãi tại các nhà thuốc trên toàn quốc.
Tham khảo thêm thông tin tại: Hệ thống thuốc nam Việt Nam https://goo.gl/LrWHQm
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
Sản phẩm này không phải là thuốc không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh
Liên hệ sản phẩm: 0394969435
 

Tác dụng diệp hạ châu

Diệp hạ châu còn gọi là cây chó đẻ, chó đẻ răng cưa. Một trong những loại thảo dược được dùng rộng rãi và hiệu quả trong điều trị các bệnh về Gan Tại Việt Nam, cây còn có nhiều tên địa phương khác như: Cam kiềm, cỏ trân châu, rút đất, diệp hòa thái,...

Hình ảnh có liên quan

Diệp hạ châu được dùng làm thuốc từ 2000 năm nay. Theo Trung Quốc Cao Đẳng Thực Vật Đồ Giám Bản (1972), Diệp hạ châu có tác dụng thanh can minh mục (mát gan sáng mắt), lợi thủy (trị phù ứ nước), giải độc tiêu tích (ăn uống không tiêu, bụng đầy trướng). Dựa vào các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, cũng như kinh nghiệm của nhiều dân tộc trên thế giới, có thể tóm tắt một số công dụng chính của Diệp hạ châu như sau.

  1. Hỗ trợ điều trị viêm gan:

Đây là một trong những công dụng được quan tâm nhiều nhất của Diệp hạ châu. Năm 1982, Break Stone đã gây được sự chú ý đối với toàn thế giới về tác dụng chống virus viêm gan b của cây thuốc này. Những thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em với bệnh viêm gan truyền nhiễm bằng một chế phẩm có Phyllanthus amarus của Ấn Độ đã cho kết quả nhiều hứa hẹn. Sau 30 ngày uống Diệp hạ châu (900mg/ngày) 50% những yếu tố lây truyền trong máu của virus viêm gan B (sinh kháng thể bề mặt của viêm gan B) đã mất đi. Bột Diệp hạ châu (Phyllanthus niruri) cho kết quả tốt với bệnh nhân viêm gan B khi uống 900 - 2.700mg trong 3 tháng liên tục.

Nghiên cứu của Nhật Bản và Ấn Độ trong năm 1980 đã xác định những tác dụng điều trị bệnh gan của Diệp hạ châu là do phyllanthin, hypophyllathin và triacontanal.

Tại Việt Nam, khá nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng điều trị viêm gan của Diệp hạ châu đã được tiến hành, chẳng hạn: nhóm nghiên cứu của Lê Võ Định Tường (Học Viện Quân Y - 1990 - 1996) đã thành công với chế phẩm Hepamarin từ Phyllanthus amarus; nhóm nghiên cứu của Trần Danh Việt, Nguyễn Thượng Dong (Viện Dược Liệu) với bột Phyllanthin (2001).

  1. Tác dụng trên hệ thống miễn dịch:

Vào năm 1992, các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã khám phá tác dụng ức chế sự phát triển HIV-1 của cao lỏng Phyllanthus niruri thông qua sự kìm hãm quá trình nhân lên của virus HIV. Năm 1996, Viện nghiên cứu Dược học Bristol Myezs Squibb cũng đã chiết xuất từ Diệp hạ châu được một hoạt chất có tác dụng này và đặt tên là “Nuruside”.

  1. Tác dụng giải độc:

Người Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc dùng Diệp hạ châu để trị các chứng mụn nhọt, lở loét, đinh râu, rắn cắn, giun. Nhân dân Java, Ấn Độ dùng để chữa bệnh lậu. Theo kinh nghiệm dân gian Malaysia, Diệp hạ châu có thể dùng để trị các chứng viêm da, viêm đường tiết niệu, giang mai, viêm âm đạo,... Công trình nghiên cứu tại Viện Dược liệu - Việt Nam (1987 - 2000) cho thấy khi dùng liều 10 - 50g/kg, Diệp hạ châu có tác dụng chống viêm cấp trên chuột thí nghiệm.

  1. Hỗ trợ điều trị các bệnh đường tiêu hóa:

Cây thuốc có khả năng kích thích ăn ngon, kích thích trung tiện. Người Ấn Độ dùng để chữa các bệnh viêm gan, vàng da, kiết lỵ, táo bón, thương hàn, viêm đại tràng. Nhân dân vùng Haiti, Java dùng cây thuốc này trị chứng đau dạ dày, rối loạn tiêu hóa,..

  1. Tác dụng đối với bệnh đường hô hấp:

Người Ấn Độ sử dụng Diệp hạ châu để trị ho, viêm phế quản, hen phế quản, lao,. ..

 Điều trị hẹp, hở van tim hiệu quả, giảm nhanh đau ngực, khó thở, mệt mỏi phòng nguy cơ suy tim. 20 năm "khổ sở" với Hen suyễn, Đờm ho, Khó thở vì không biết tới Lá Hen

6.Tác dụng giảm đau:

Kenneth Jones và các nhà nghiên cứu Brazil đã khám phá tác dụng giảm đau mạnh và bền vững của một vài loại Phyllanthus, trong đó có cây Diệp hạ châu - Phyllanthus niruri. Tác dụng giảm đau của Diệp hạ châu mạnh hơn indomethacin gấp 4 lần và mạnh hơn 3 lần so với morphin. Tác dụng này được chứng minh là do sự hiện diện của acid gallic, ester ethyl và hỗn hợp steroid (beta sitosterol và stigmasterol) có trong Diệp hạ châu

7.Tác dụng lợi tiểu:

Y học cổ truyền một số nước đã sử dụng Diệp hạ châu làm thuốc lợi tiểu, trị phù thũng. Ở Việt Nam, Diệp hạ châu được dùng sớm nhất tại Viện Đông y Hà Nội (1967) trong điều trị xơ gan cổ trướng.

  1. Hỗ trợ điều trị chữa sỏi mật, sỏi thận:

Một số bộ tộc thổ dân ở Nam Mỹ sử dụng DHC chữa sỏi mật và sỏi thận. Những vị pháp sư đã sử dụng khả năng đặc biệt của DHC trong tác dụng làm tiêu sỏi trong các chứng sạn mật, sạn thận nên đã đặt tên là cây tán sỏi.  Trong Witch Doctor’s Apprentice, 1 quyển sách được xuất bản từ 1961, viết về những bí thuật chữa bệnh của những vị pháp sư người da đỏ ở vùng rừng già Amazon

Một nghiên cứu của trường Đại học Dược Santa Catarina (Brazil-1984) đã phát hiện một alkaloid của Diệp hạ châu (phyllan thoside) có tác dụng chống co thắt cơ vân và cơ trơn, các nhà khoa học đã nhờ vào điều này để giải thích hiệu quả điều trị sỏi thận, sỏi mật của cây thuốc.

  1. Tốt cho bệnh tiểu đường:

Tác dụng giảm đường huyết của Diệp hạ châu (Phyllanthus niruri) đã được kết luận vào năm 1995, đường huyết đã giảm một cách đáng kể trên những bệnh nhân tiểu đường khi cho uống thuốc này trong 10 ngày.

 

Lợi ích không ngờ của quả thanh long đối với sức khỏe

Cây Thanh long còn có tên: Mắt rồng (oeil de dragon); tên khoa học là Hylocereus undulatus thuộc họ Long cốt (Cactaceae) chỉ mọc ở những tỉnh nắng nóng ở phía Nam nước ta, nhiều nhất tại mấy tỉnh Thuận Hải, Nha Trang, Long An.
Mùa quả vào các tháng 6-9, quả Thanh long màu đỏ đẹp, dài 18-20 cm, rộng 12-15 cm. Sau lớp vỏ mỏng màu đỏ có những phiến hoa còn lại. sau khi bóc bỏ lớp vỏ màu đỏ, thịt quả màu trắng xanh, với rất nhiều hạt màu đen, nhỏ hơn hạt mè, nhân dân vẫn dùng ăn, mát và ngọt. Đặc biệt mấy năm gần đây, Thanh long trở thành một nguồn xuất khẩu.
Về phân tích hóa học, hiện còn rất ít công trình nghiên cứu. Nhưng sơ bộ ta thấy trong quả Thanh long có rất nhiều chất nhầy, chất pectin, ít vitamin C. Những chất nhầy và pectin thuộc nhóm các xơ thực vật. Trước đây người ta đánh giá những chất xơ thực vật là những chất độn, ít có tác dụng bổ dưỡng, và ít tác dụng đối với sức khỏe con người. Nhưng vài thập kỷ gần đây,xuất phát từ nhận xét rằng: vài trăm năm trước đây, dân châu Âu chỉ ăn nhiều thức ăn thực vật, mỗi ngày rau cỏ, hoa quả cung cấp cho họ từ 60-120g chất xơ thực vật. Nhưng sau khoảng 200 năm công nghiệp hóa, dân châu Âu ăn toàn những thức ăn đã chế biến, chỉ còn đưa vào trong người mỗi ngày khoảng 20g chất xơ thực vật. Cách ăn uống này đã gây cho nhân dân châu Âu những bệnh gọi là “bệnh văn minh” như táo bón, béo phì, tiểu đường, dư cholesterol, vữa xơ động mạch, viêm ruột kết, là những bệnh dường như ít gặp ở những dân tộc ăn những thức ăn có nhiều chất xơ.
Ăn quả Thanh long cũng như ăn chè hạt é có chứa nhiều chất nhầy, người ta thấy “mát” và “ngọt”, phải chăng đó là do thành phần nhiều chất nhầy và pectin của quả? Tính chất ngọt và “mát” này thể hiện ở chỗ làm hết táo bón, thân thể nhẹ nhàng. Nhưng nếu ăn quá nhiều có thể gây ỉa chảy. khi thấy ỉa chảy chỉ cần nghỉ ăn Thanh long là hết.

Tác dụng chữa bệnh bất ngờ của hương nhu

 

       Hương nhu là tên chữ Hán, song cũng tuỳ theo từng vùng mà có nhiều tên gọi khác nhau như Hương thái, Hương như, Thạch giải, Cẩn nhu, Thanh lương chủng, Mật phong thảo, rau é, Sách “Bản thảo cương mục” còn gọi Hương nhu là “Hương nhung” và chép rằng. “Hương nhu có công hiệu tiêu phiền, giải thử…” Có hai loại Hương nhu chính là: “Bạch hương nhu và Tử hương nhu” tức Hương nhu trắng và Hương nhu tía mà bà con phía Nam vẫn gọi nôm na là rau é trắng và rau é tía...
       Theo “Dược tính đại từ điển”, Hương nhu có vị cay, tính hơi ấm, không độc, giỏi hạ khí, giải cảm nắng, trừ phiền nhiệt, giúp ra mồ hôi, lợi tiểu…, chủ trị các chứng như tiêu chảy, đau bụng, ói mửa, thuỷ thũng. Liều dùng thông thường khoảng từ 2g đến 8g. Còn sách “Nam dược thần hiệu” có ghi: Hương nhu vị cay, tính hơi ấm, để lâu chữa được thổ tả rút gân, giải cảm nắng, trừ phiền nhiệt rất tốt và khuyên nên thu hoạch vào tháng 8, tháng 9 âm lịch lúc Hương nhu đang có hoa, hái về phơi khô cất dùng dần.
Sách “Những cây thuốc, vị thuốc Việt Nam” chép: Tên Hương nhu hiện được dùng để chỉ nhiều vị thuốc khác nhau, nhưng đều là cây thuốc họ Hoa môi. Tại Việt Nam có hai loại Hương nhu trắng và tía; Hương nhu tía còn gọi là é rừng hay é tía; Hương nhu trắng còn có tên là é lớn lá. Hương nhu của ta và Hương nhu của Trung Quốc tuy khác nhau về nguồn gốc, nhưng có cùng một công dụng về trị liệu bệnh. 
       Xin giới thiệu một số phương cụ thể trong trị liệu bằng Hương nhu:
* Chữa trẻ mắc chứng chậm mọc tóc.
Hương nhu 40g, sắc với 200ml nước, sau cô đặc, trộn với mỡ lợn bôi lên đầu mỗi ngày. (Theo những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam).
* Chữa cảm nắng. Chọn một trong hai phương sau:
1. Hương nhu 20g, Gừng tươi 6g, nước 450ml, đun sôi 15 phút, lấy nước uống nóng, đắp chăn cho mồ hôi toát ra.
2. Hương nhu 16g, vỏ Vối rừng 10g, Đậu ván (sao giã dập) 10g sắc lấy nước uống, chia hai lần trong ngày.
* Chữa chứng cảm mạo tứ thời.
Dùng Hương nhu thái nhỏ, mỗi lần uống 8g, pha với nước sôi hay dùng rượu hâm nóng để chiêu thuốc, cho ra mồ hôi là khỏi bệnh.
* Chữa chứng cảm hàn. Dùng một trong hai phương sau:
1. Lấy Hương nhu tươi cả rễ (rửa sạch) 15g, gạo cội (gạo ta hạt) 50g, vo đãi kỹ. Tất cả cho vào nồi nấu thành cháo loãng, khi cháo vừa sôi cho vào nồi 15g Đường đỏ, quấy tan đều. Để cháo chín đều là được. Ăn nóng, sau đắp chăn cho ra mồ hôi rất hiệu nghiệm. (Theo Thường kiến bệnh thực phẩm liệu pháp).
2. Hương nhu 30g, kẹo mạch nha 15g, cho vào nồi cùng nửa bát nước cơm, đợi kẹo Mạch nha tan hết thì đổ vào nồi đất nấu 30-50 phút, hạ lửa, chờ bớt nóng, lọc bỏ bã và nấu sôi lại, đập 1 quả trứng gà, nên thêm chút đường trắng và uống nóng.  Phương thuốc rất hay ( Thường kiến bệnh thực phẩm liệu pháp).
* Chữa chứng cúm truyền nhiễm.
Dùng Hương nhu 50g, Đậu nành (Hoàng đậu) 15g, cho nước vừa đủ, đun kỹ lấy nước nóng một lần (Thường kiến bệnh thực phẩm liệu pháp).
* Chữa hôi miệng.
Hương nhu 10g, nước 200ml, sắc lấy nước ngậm và súc miệng thường xuyên sẽ hiệu nghiệm.
* Chữa viêm mũi dị ứng.
Hương nhu 12g, Bạc hà 12g, Cỏ cứt lợn 12g, nước 500ml đun sôi cho vào ca bịt giấy chọc thủng một lỗ nhỏ đủ để ghé mũi vào hít hơi, ngày một lần.
* Chữa chứng nôn mửa ỉa chảy.
Dùng 1 nắm Hương nhu, rửa sạch, sắc lấy nước, hoà thêm một muỗng nước cốt Gừng, chia hai lần uống trong ngày (Dã thái trị bách bệnh dân gian liệu pháp).
* Chữa trĩ.
Dùng Hương nhu 500g, nấu sôi, để nước còn ấm đổ vào chậu ngâm hậu môn, sau rửa, làm thường xuyên. Phương này rất công hiệu (Dã thái trị bách bệnh dân gian liệu pháp).
* Chữa sởi ở trẻ em.
Sởi mới mọc, dùng 500g – 1kg Hương nhu, nấu lấy nước lau mặt và cổ cho trẻ, sởi mọc đều và phòng được biến chứng. (Dã thái trị bách bệnh dân gian liệu pháp).
* Chữa chứng đau bụng.
Lấy lá Hương nhu 1000g, ngâm vào rượu nho, sau ba ngày lọc bỏ bã. Khi đau bụng, uống 15ml rượu này. Phương này rất kiến hiệu. (Thường kiến bệnh thực phẩm liệu pháp).
* Chữa đái rắt hoặc bụng đầy.
Hương nhu 40g, cỏ sả 30g, rau dừa nước 30g. Sắc lấy nước uống trong ngày.
Cần lưu ý: Không lạm dụng khi dùng Hương nhu, vì vị thuốc này làm ra mồ hôi nhiều sẽ gây tổn thương nguyên khí. Những người âm hư, khí hư tránh dùng Hương nhu.

Nha đam vừa chữa bệnh vừa làm đẹp

 

Những năm gần đây, nước ta nhập từ các nước phương Tây những sản phẩm làm đẹp (mỹ phẩm) chế từ cây Aloe vera: xà phòng tắm, kem xoa cạo râu,kem gội đầu (shampoo)… sản phẩm nào cũng quảng cáo là được pha dịch chiết của cây Aloe vera với tỉ lệ 0,1 - 0,2% có tác dụng giữ cho da khỏi khô, luôn mịn màng, khi lưỡi dao cạo chạy qua không bị nóng rát… Vậy cây Aloe vera là cây gì? Nước ta có hay không? 
Aloe vera chính là tên khoa học của cây Nha đam, còn có tên Lô hội, hay Long tu (râu rồng), Lưỡi hổ, Tượng đảm (Mật voi) mọc rất dễ dàng ở khắp nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh miền Nam Trung bộ (Phan Rang, Bình Thuận…). Một số gia đình trồng trong chậu để làm cảnh, vì cây tuy ít khi ra hoa, nhưng với những lá hình nón, dài nhọn, dài từ 30-50 cm, mặt trên khung hình máng, mặt dưới cong, rộng 5-10 cm, dày 1-2 cm, màu xanh lục nhạt, với những điểm trắng tròn hoặc dài, mép điểm những răng cưa nhỏ trắng, mọc thành vành từ gốc, cây Nha đam trông rất ưa nhìn.
Nhân dân ta từ lâu đã biết sử dụng lá Nha đam để chữa bệnh: dạng thuốc phổ biến nhất là nhựa lá Nha đam cô đặc có tên Lô hội (lô là đen, hội là tụ lại, vì nhựa lá cây cô lại có màu đen nhánh). Tác giả người Pháp là A. Petelot đã viết rằng: vùng Phan Rang - Bình Thuận đã nấu lá Nha đam để sử dụng trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc với tên Lô hội, có năm đã đưa sản lượng Lô hội lên tới 500- 600 kg. Lô hội được dùng trong cả  Đông và Tây y (Tây y với tên Aloes, Đông y với tên Lô hội).
Tính chất của Lô hội được ghi trong các sách cổ là vị đắng, tính hàn, vào 4 kinh can, tỳ, vị và đại tràng, dùng làm thuốc thanh nhiệt (hết sốt nóng, thông đại tiện, mát gan). Lá Nha đam khi đã chế thành Lô hội đặc cứng thì chỉ dùng với liều rất nhỏ (0,05 đến 0,1g) để giúp sự tiêu hóa, và với liều 0,15- 2g nếu muốn tẩy hay nhuận tràng. Nhớ rằng không được dùng Lô hội quá liều 2g để tẩy có thể nguy hiểm. Phụ nữ có thai cũng không được dùng. Tốt nhất chỉ nên dùng lá tươi như nhân dân vẫn làm như sau: cắt hai, ba lá Nha đam, bóc bỏ lớp vỏ cứng bên ngoài. Lấy phần ruột lá trông như miếng thạch màu xanh. Thái nhỏ, ăn với đường hay nấu với đậu xanh thêm đường vào mà ăn. Ngày ăn 1-3 lá như vậy sẽ giúp ăn ngon cơm, phụ nữ kinh nguyệt điều hòa, hết táo bón, phân mềm nhão, không lỏng.
Dùng lá Nha đam đắp bên ngoài trong những trường hợp bỏng, vết đứt tay chân, trĩ ngoại gây viêm tấy, đau nhức, đau mắt đỏ và hầu như tất cả mọi tổn thương ngoài da khác. Cách làm cũng rất đơn giản: cắt một hai lá Nha đam (tùy theo diện tích nơi tổn thương), bóc bỏ lớp vỏ cứng bên ngoài. Chỉ lấy phần lõi trong, hơi xanh ở trong. Đắp ngay lên nơi tổn thương. Nếu để đắp mắt đau, chỉ cắt lấy một phần lá; từ phần lá cắt ra, lại chỉ cắt từng miếng nhỏ, vừa to hơn con mắt một chút. Bóc bỏ lớp vỏ cứng. Dùng lõi xanh đắp lên mắt. Ngày thay hai ba lần.
Trên cơ sở những kinh nghiệm dân gian tại những nơi có Nha đam mọc, các nhà nghiên cứu châu Âu, châu Mỹ vào mấy thập niên gần đây, trong phong trào trở lại với thiên nhiên, đã nghiên cứu dùng lại những cây cỏ trong việc phòng và chữa bệnh cũng như để làm đẹp con người, mới phát hiện tác dụng kháng sinh, làm cho da mịn, khỏi khô da đầu do bị các hóa chất dùng trong dầu gội đầu. Đó là lý do chúng ta thấy trong thập niên gần đây các nước châu Âu thi nhau sản xuất những chế phẩm có chứa chất “thạch” trong lá Nha đam. Nhưng có đọc kỹ những lời giới thiệu sản phẩm, chúng ta mới thấy tỉ lệ chất Nha đam chứa trong các sản phẩm đó rất thấp 0,1 đến 0,2 %, còn lại là các hóa chất dùng để bảo quản, thêm màu, mùi thơm, tạo bọt v.v… Nếu tính giá một sản phẩm nặng 100- 150g thì tỉ lệ thành phần Nha đam chứa trong đó chưa bằng lượng những chất đó chứa trong một lá Nha đam chúng ta cắt từ cây Nha đam trồng trong chậu. Cho nên mỗi một gia đình nên trồng một hai chậu Nha đam vừa để làm cảnh vừa để làm thuốc. Trồng lại rất dễ; có thể dùng cây con hay lấy một đoạn rễ đặt vào một chậu có chứa đất. Phủ đất lên, giữ ẩm đều.

 

Tác dụng bất ngờ của đu đủ

       Tên khoa học Carica Papaya L. Thuộc họ Đu đủ (Papayaceae).
       Đu đủ còn có tên Phan qua thụ, Lô hong phlê (Căm pu chia), Mác hung (Lào) – Cà lào, phiên mộc.
       Quả Đu đủ xanh và chín, hạt Đu đủ, hoa Đu đủ, nhựa Đu đủ, Papain, chất ancaloit – Cacpain có tác dụng phòng, trị bệnh. Nhiều nước đã phát triển trồng Đu đủ để dùng trong nước và xuất khẩu như Tangiania (Đông Phi), Uganda.v.v..
       Đu đủ được trồng ở khắp nơi chỉ để làm thức ăn mà chưa phát huy giá trị chữa bệnh và giá trị kinh tế của Đu đủ. Xin nêu một số tác dụng làm thức ăn và thuốc của Đu đủ như:
* Quả Đu đủ chín được coi là một món ăn bồi bổ và giúp sự tiêu hoá các chất thịt, các chất lòng trắng trứng.
Quả Đu đủ chín cắt bỏ vỏ ngoài, bổ thành hai, lọc sạch hạt, cho vài thìa đường phèn vào úp lại rồi cho vào nồi hấp hoặc hấp trên nồi cơm đã cạn. Cơm chín lấy ra, đánh nhừ, chia nhiều lần, ăn trong ngày để chữa ho, hen suyễn, viêm phế quản và viêm ống phế quản nhất là cho người già hay bị viêm họng, kết quả tốt.
Có thể ăn Đu đủ chín nhiều lần (ăn thường) trong ngày để chữa đầy trướng bụng
* Quả Đu đủ xanh nấu kỹ với thịt gà, ăn theo cơm, ngày hai lần, chữa loét dạ dày. Bệnh lành nhưng người hơi xuống cân.
- Nấu với thịt dai cứng để chóng bở, mềm. Nấu với móng giò heo cho phụ nữ mới đẻ ăn cho có nhiều sữa.
- Dùng Đu đủ xanh nghiền với nước sôi, để nguội, bôi lên mặt hoặc lên tay để chữa các vết tàn hương ở tay và mặt.
* Mủ nhựa Đu đủ: bôi ngoài, chữa trai chân và hột cơm, bệnh sang thấp (eczema) hoặc can tiển (psoriasis)
Tại Mỹ, nhựa Đu đủ dùng trong kỹ nghệ chế bia: kỹ nghệ thực phẩm, dược phẩm, tơ sợi (để sợi khỏi co), làm da. Hàng năm nhập tới hàng nghìn tấn nhựa.
* Lá Đu đủ dùng để gói thịt gà cứng để khi nấu chóng mềm.
- Nước sắc lá Đu đủ dùng để  giặt những vết máu trên vải và quần áo, hoặc để rửa các vết thương, vết lở loét.
- Thái lá Đu đủ cho nhỏ rồi trộn với thóc cho ngựa, bò ăn để chữa bệnh biếng ăn của bò ngựa.
* Hoa Đu đủ đực tươi hoặc khô, hấp với đường trắng hoặc đường phèn uống chữa bệnh ho viêm ống phổi, mất tiếng. Cách làm như sau:
Lấy 20-30 gam hoa Đu đủ đực tươi hoặc 10g khô bỏ vào cái chén nhỏ cho vài muỗng cà phê đường trắng hoặc đường phèn. Chờ cơm sôi cạn, bỏ cả chén vào và hấp. Khi cơm chín thì lấy ra, vắt bỏ bã, uống nước. Ngày làm hai lần theo buổi nấu cơm. Uống trong vài ba ngày, bệnh thuyên giảm nhiều và cứ như thế uống cho tới lúc hết bệnh.
      Cây Đu đủ là loại cây rất có ích cho đời sống và y học. trồng Đu đủ cũng có thể xoá đói giảm nghèo.

Hồng hoa - hoa hồng các vị thuốc quý

Hồng hoa và hoa Hồng là hai vị thuốc hoàn toàn khác nhau trong đông y. Mỗi vị đều có tác dụng chữa bệnh riêng. 

Hoa hồng


Chữa ho trẻ em
Cánh hoa Hồng trắng tươi (trộn hoặc không trộn với Quất), Mật ong nửa thìa; hấp cách thủy, cho trẻ uống.

Chữa miệng hôi
Hoa Hồng 5g, hãm nước sôi; để nguội, ngậm, súc miệng rồi nhổ đi. Hoặc hoa Hồng 5g, rửa sạch, nhai, ngậm rồi nhổ đi.

Chữa viêm, sưng tuyến vú
Hoa Hồng 7 bông, Đinh hương 7 nụ, rượu lượng vừa đủ. Tất cả nấu lấy nước uống (bỏ cái), uống lúc no. Hoặc hoa Hồng 30 bông (bỏ nhụy, cuống) phơi trong bóng râm, rượu lượng vừa đủ. Tất cả đun sôi, chắt nước uống lúc no bụng (nước thuốc phải ấm). Dùng sớm sẽ có công hiệu hơn.

Chán ăn và phàm ăn
Cánh hoa Hồng đỏ, hoa Cúc khô, hai vị lượng bằng nhau, mỗi vị một nắm to, nước sôi 2 lít. Cho các vị thuốc trên vào ngâm trong nước sôi khoảng 25 phút rồi đem lọc lấy nước (cho thêm chút đường) làm nước uống hoặc chế thành xirô uống dần. Dùng hoa Hồng đỏ tốt hơn hoa Hồng trắng.

Kinh nguyệt không đều
Hoa Hồng 5g, hoa Quế 3g, rượu 50ml, đun cách thủy hay hấp cơm; để nguội, uống. Hoặc hoa Hồng tươi 30 bông (bỏ nhụy, cuống), Đường phèn 500g. Sắc ba lần, mỗi lần sắc cho một lít nước, sắc còn 500ml. Trộn ba lần sắc lại, cô còn 500ml, cho Đường phèn quấy đều rồi cô thành cao, để nguội, cho vào lọ đậy kín, dùng dần. Ngày dùng 3 lần, mỗi lần 2 – 3 thìa cao hoa Hồng với nước ấm.

Rong kinh, băng huyết
Hoa Hồng 20 cánh ngâm cùng một lít nước sôi trong 30 phút. Khi nước ngả màu đỏ thì cho thêm 50g đường làm nước uống, mỗi lần uống 200ml.

Kỳ kinh không đều (sớm hoặc muộn)
Cánh hoa Hồng 6 –7g, h•m nước sôi uống thay trà. 

Hồng hoa


Loét do liệt nằm lâu
Hồng hoa 30g, Rượu trắng 300ml. Cho Hồng hoa vào trong Rượu trắng ngâm một tuần. Dùng bông sạch thấm rượu Hồng hoa chấm nơi bị loét. Hoặc: Hồng hoa 50g, nước 700ml, đun cho tới khi Hồng hoa mất màu, trở thành trắng thì lọc lấy nước cô lại thành cao. Dùng vải bông sạch, mỏng, thấm cao đắp lên chỗ loét.

Bế kinh đau bụng
Hồng hoa 15g, Rượu nếp 50ml, nước vừa phải. Tất cả cho vào đun sôi kỹ, chắt nước thuốc, để bớt nóng rồi uống hết cả chén; uống liên tục từ 3 – 5 ngày.
Hoặc: Hồng hoa 20g (cho vào một túi nhỏ), Gạo tẻ 50g vo kỹ; nấu hai thứ thành cháo. Khi cháo chín, bỏ túi Hồng hoa ra, ăn cháo hết một lần (ngày ăn một lần).

Chữa bầm tím do chấn thương Hồng hoa và hoa Hồng (bỏ nhụy, cuống), mỗi vị 15g; Rượu trắng (60o) 500ml. Cho tất cả các vị trên vào lọ, đậy kín, thỉnh thoảng lắc đều. Sau nửa tháng đem ra dùng. Mỗi lần dùng, lấy 20ml rượu thuốc này đem chưng cách thủy, uống nóng. Đồng thời dùng gạc sạch tẩm rượu đắp lên chỗ bầm đau.
Chú ý: Các loại hoa Hồng có bán trên thị trường không dùng làm thuốc được vì là giống hoa cảnh nên có dư lượng thuốc trừ sâu lớn. Hoa Hồng bạch làm thuốc là loại hoa nhiều cánh, cuống nhỏ, hay trồng ở chùa và được dùng làm hoa đĩa cúng.

Đậu xanh vừa lành vừa bổ

Đậu xanh tính mát, vị ngọt, không độc, có tác dụng: thanh nhiệt giải độc, giải cảm nắng, lợi thủy. Đậu xanh còn gọi là lục đậu, (Là hạt của cây đậu xanh), thực vật thuộc họ đậu. Tính mát, vị ngọt, không độc. 
Thành phần chính có: anbumin 22,1%, chất béo 0,8%, cacbua hydro 59%, calci, phốt-pho, sắt, caroten, vitamin B1, B2. 100g có thể cho 332 kcal nhiệt lượng. Anbumin chủ yếu là anbumin khối, một số ít a-xít a-min an-by-mu-nô-ít, try-tô-phan, ty-rô-sin, a-xít ni-cô-ti-níc và a-xít béo có phốt-pho. Vỏ hạt đậu cứng có thể dùng làm dược liệu. 
Tác dụng: thanh nhiệt giải độc, giải cảm nắng, lợi thủy. Chủ yếu dùng chữa cảm nắng, phù thũng, tả lị, mụn độc, bạc nước, giải độc do thuốc. 
Cách dùng: ăn, đun thành canh. Nghiền bột hoặc xay hạt sống lọc lấy nước. 
Chữa bên ngoài: nghiền nhỏ mà đắp. 
Kiêng kị: Tì vị hư do hàn, hay đi ngoài thì không nên dùng.   



Chữa trị

* Chữa cảm nắng: đậu xanh lọc sạch cho vào nồi đổ thêm nước đun cho sôi. Chắt nước có mầu trong xanh để nguội uống. Nước có mầu đục thì thuốc không tốt. Giải khát, đi tiểu bình thường. đậu xanh 60g lọc sạch cho vào 1.000ml nước đun nhừ, chắt nước uống sáng và tối trước lúc ăn cơm mỗi lần 200ml.  
* Đi lỵ đỏ mạn tính: đun đậu xanh nhừ, ăn tùy thích.  
* Viêm tuyến mật: đậu xanh tươi 60g. Bỏ vào nồi đun cho nhừ, cho lõi bắp cải 2-3 cái, đun thêm 20 phút. Chắt nước ra uống. Ngày một, hai lần. Nếu phát hiện bệnh sớm, uống ngay thời kỳ đầu thì hiệu quả  tốt hơn. 
* Nhiễm độc chì: Mỗi ngày dùng 120g đậu xanh, 15g cam thảo, đun thành canh, chia làm hai lần uống với 300mg vitamin C. 15 ngày là một liều chữa trị. Nói chung liên tục điều trị hai liều là cơ bản có thể chữa được bệnh.  
* Nóng sốt với viêm ruột: Vỏ hạt đậu xanh 15g đun với nước cho thêm 15g đường trắng mà uống cho đến khi hết bệnh.  
* Bị phong cảm: đậu xanh 30g, ma hoàng 9g, đun với nước uống; đậu xanh 30 (giã nát), lá chè 9g (bỏ vào trong túi vải). Một bát to nước lã đổ vào nấu. Khi còn nửa bát, lấy túi chè ra, cho đường đỏ vào mà uống.  
* Đề phòng nóng sốt: đậu xanh, rễ cỏ gianh tươi 30g, song hoa 15g, cho hai bát nước vào đun đến khi còn một phần hai bát thì uống. Ngày ba lần, uống liên tục trong ba ngày.  
* Đau bụng nôn ọe: đậu xanh 100g hạt, hồ tiêu 10 hạt, cùng nghiền bột nhỏ, rót nước sôi vào ngâm mà uống; hoặc đậu xanh, đường phèn, mỗi loại 16g đun với nước mà uống.  
* Viêm niệu đạo: Giá đậu xanh 500g, ép lấy nước cho đường trắng vào uống.  
* Nhiễm độc thuốc trừ sâu 666: đậu xanh, đậu tương mỗi thứ 125g, cũng xay bột uống với nước cơm.  
* Trúng độc thuốc nông dược lân hữu cơ: đậu xanh bốn phần, cam thảo một phần. đun sôi cho vào rửa ruột.  
* Bị bỏng: Vỏ đậu xanh 30g, sa hoàng, thêm một ít băng phiến. Nghiền nát thành bột, đắp vào chỗ bỏng. ít sữa đậu xanh, đường đỏ vừa đủ. đun thành canh uống thay chè.  
* Bệnh đái đường: đậu xanh 200g, lê hai quả, củ cải xanh đun chung cho chín mà ăn.  
* Giải cảm nhiệt, phòng cảm nắng, tiêu phù thũng, chữa cao huyết áp, bớt mỡ trong máu, viêm túi mật : đậu xanh 100g, mơ chua, đường trắng mỗi thứ 50g. đun đậu xanh và mơ chua cho nhừ, cho đường vào khuấy đều, để nguội rồi ăn đậu xanh gạo cũ mỗi thứ lượng vừa đủ, cùng đun thành cháo, cho thêm ít đường phèn mà ăn.  
* Viêm gan mạn tính: đậu xanh 100g, táo tầu 10 quả... Cho nước vừa đủ đun thành cháo. Mỗi ngày ăn một lần.  
* Bạch đới quá nhiều: đậu xanh 500g, mộc nhĩ đen 100g, cùng rang vàng, nghiền thành bột nhỏ. Mỗi ngày hai lần. Mỗi lần 15g, ăn cùng với cơm hoặc nước cháo.  
* Huyết áp cao: đậu xanh, rau sen, đường phèn mỗi thứ 100g. đun nước uống. Mỗi ngày hai lần.  
* Ho lao: đậu xanh 200g, rong biển 50g, đường trắng vừa đủ. Cho nước vừa đủ đun đậu chín nở. Rong biển ngâm cho mềm rửa sạch cắt thành sợi nhỏ, cho lên trên đậu, rồi rải một lớp đường trắng lên trên, làm lại ba lớp như thế. Cho vào nồi chưng lửa nhỏ trong 30 phút. Mỗi ngày ăn từ hai đến ba lần.  
* Viêm vòm họng, vòm họng bị lở loét: đậu xanh 20g, trứng gà tươi một quả. đập trứng vào trong bát đánh kỹ, đun đậu xanh cho chín tới (không đun quá kỹ). Lấy nước đun đậu đánh trứng vào mà húp. Mỗi ngày hai lần vào sáng và tối.

Hồ đào - phương thuốc thần kỳ chữa ung thư tử cung

Hồ đào còn có tên là  cây óc chó, Hạch đào, Hạnh đào, Khương đào, Hoàng đào, Vạn tuế tử… tên khoa học  Juglans regia L., họ Hồ đào.
Hồ đào vốn có nguồn gốc từ ấn Độ và các nước Tây Nam á, hiện đã di thực vào Việt Nam; được trồng ở một số tỉnh biên giới như Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn; Hồ đào xuất sang Trung Quốc rất được ưa chuộng.
Hồ đào là loại cây to, vỏ nhẵn, màu tro, sống lâu năm; độ cao có thể đạt tới 30m. Lá kép lông chim, không có lá kèm; thường có 7 – 9 lá chét; mép nguyên không cuống, hình trứng thuôn, khi vò có mùi hăng. Hoa đơn tính, hoa đực mọc tụ thành hình đuôi sóc rủ xuống; hoa cái xếp 2 – 3 cái ở cuối cách nhánh. Quả hạch, vỏ mẫm, đường kính 3 – 4cm. Nhân nguyên ở phía trên; chia thành 4 thuỳ ở phía dưới, nhiều rãnh nhăn nheo. Hoa nở vào mùa hạ; quả chín vào tháng 9 – 10.
Theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS. Đỗ Tất Lợi:“
• Hồ đào nhân chứa 40 – 50% chất béo, ngoài ra trong hạt Hồ đào còn có 15,5% protein, 10,4% hydrat cacbon, 1,5% tro (magiê, mangan, canxi photphát, sắt, vitamin A, B2, C và E).
• Thanh long y (vách ngăn trong quả) có axit xitric, axit malic, juglin, hydrojuglon, axit elagic, emunsin, peroxydaza và tro.
• Lá Hồ đào chứa một ít tinh dầu, khoảng 5% chất đường inozitol, một tanin pyrogalic, axit galic và axit elagic, ngoài ra còn có chất juglon và hydrojuglon, một chất hắc và đắng là juglandin, chất nhựa và pectin”.
Hồ đào được dùng trong cả Đông y và Tây y. Tây y chủ yếu chỉ sử dụng lá dùng làm thuốc se da, sát trùng, bổ máu và lọc máu; Đông y sử dụng toàn bộ cây Hồ đào.
* Hồ đào nhân
Là nhân phơi hay sấy khô của quả Hồ đào chín, còn có tên là Hạch đào nhân, Hồ đào nhục, Hạch đào nhục, Hồ đào.
Tính vị, quy kinh: Hồ đào nhân vị ngọt, tính ôn, không độc, vào 2 kinh phế, thận.
Công hiệu: Bổ thận cố tinh, ôn phế định suyễn, nhuận tràng. 
Chủ trị: Phế thận hư suy khái suyễn, lưng gối yếu mỏi, dương nuy (liệt dương, rối loạn cương cứng), di tinh, tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu có lẫn sỏi, đại tiện táo kết; dùng làm thuốc bổ dưỡng, nhuận da, đen tóc…
Đông trùng hạ thảo, Cáp giới (Tắc kè) và Hồ đào nhân đều là những vị thuốc cam ôn (ngọt ấm), chủ yếu vào 2 kinh phế và thận, có tính năng bổ phế, thận, trừ ho suyễn; thích ứng với các chứng ho suyễn do phế thận lưỡng hư. Tuy nhiên, giữa các vị thuốc trên có một số khác biệt: Đông trùng hạ thảo ngọt ấm mà không háo, bổ thận dương lại bổ phế âm, là vị thuốc quan trọng để tư dưỡng phế, thận; Cáp giới bản tính thuần âm, bổ thận dương và bổ phế khí, ích tinh huyết và chống ho suyễn, là vị thuốc quan trọng để bồi bổ đồng thời hai tạng phế, thận; Hồ đào nhục tuy ngọt ấm mà tính lại nhuận, bổ thận âm, bổ phế khí, lại vừa nhuận tràng, có sở trường bổ thận, ôn phế, trừ ho suyễn.
Liều dùng: 10 – 30g dưới dạng thuốc bột hay sắc nước uống.
Kiêng kỵ: Người âm hư hoả vượng, ho do đờm nhiệt và đại tiện lỏng dùng phải cẩn thận.
Không uống Hồ đào với nước trà đặc.
*Hồ đào diệp (lá cây Hồ đào)
Vị ngọt tính ấm; có tác dụng sát trùng, giải độc. 
Chủ trị: Khí hư, bạch đới, mụn nhọt lở loét, phù chân voi.
*Hồ đào xác (vỏ quả Hồ đào đã chín  - phần thịt):
Còn có tên Thanh long y.
Chủ trị: Băng huyết, nhũ ung, lở ngứa.
*Hồ đào chi (cành non của cây Hồ đào): Vị ngọt, tính ấm; có tác dụng sát trùng giải độc; chủ trị ung nhọt, lở loét, ngoài ra còn dùng để làm thuốc giảm đau, bổ máu, kích thích tiêu hoá và điều trị một số bệnh ung thư.
*Hồ đào hoa (hoa Hồ đào):  Ngâm rượu đắp chữa mụn cóc.ă Hồ đào căn (vỏ rễ Hồ đào): Có tác dụng nhuận tràng, thông đại tiện; có thể dùng để chữa táo bón mạn tính.
*Phân tâm mộc (là vách ngăn bên trong quả): Còn gọi là Hồ đào y, Hồ đào giáp, Hồ đào cách. Theo sách Bản thảo tái tân, Phân tâm mộc vị đắng, chát, tính bình; vào 2 kinh tỳ và thận; có tác dụng kiện tỳ, cố thận, sáp tinh, lợi niệu thanh nhiệt. Dùng chữa di tinh hoạt tiết, lâm bệnh, niệu huyết, di niệu (đái dầm, đái són), băng trung, đới hạ, tả lỵ.
Liều dùng uống trong: 6 – 9g.
Một số bài thuốc dùng Hồ đào
* Chữa dương nuy (liệt dương, rối loạn dương cương), di tinh Hồ đào nhân 60g, rau Hẹ 250g, Dầu vừng 30g, muối 1,5g, rán chín ăn, hoặc Hồ đào nhân, Khiếm thực, ý dĩ nhân (lượng bằng nhau: 9 – 15g), sắc nước uống trong ngày.
* Chữa di tinh Phân tâm mộc 6g, Khiếm thực 12g, Câu kỷ tử 12g, Bổ cốt chi 9g, Mẫu lệ 24g; sắc nước uống trong ngày.
* Chữa đau lưng, mỏi gối
Dùng Thanh nga hoàn, gồm: Hồ đào nhân 300g, Bổ cốt chi 120g (sao thơm), Đỗ trọng 240g (tẩm Gừng sao), nghiền mịn các vị, trộn với 120g Tỏi giã nhuyễn làm thành viên; ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g, chiêu bằng rượu ấm.
* Chữa đêm ngủ đi tiểu nhiều lần 
Hồ đào nhân nướng chín, ăn trước lúc đi ngủ, chiêu bằng rượu ấm.
* Chữa sỏi đường tiết niệu 
Hồ đào nhân 60g, Dầu vừng 60g, rán Hồ đào nhân, thêm 60g Đường trắng, trộn đều, nghiền nhuyễn, chia ra 3 lần ăn trong ngày, hoặc dùng Hồ đào nhân 60g, Gạo tấm 30g, nấu cháo ăn.
* Chữa ho, đờm suyễn lâu ngày (bao gồm viêm phế quản mạn tính ở người già, hen suyễn, phế khí thũng) Hồ đào nhân (1 – 2 quả) nhai với Gừng tươi (1 – 2 lát), nuốt dần; ngày ăn 2 lần vào buổi sáng và buổi tối, hoặc dùng Nhân sâm, Hồ đào nhân (mỗi vị 6g), sắc nước uống.
* chữa người già yếu, ho, thở, ngủ không được Hồ đào nhân, Hạnh nhân, Sinh khương (mỗi vị 40g), giã nát, dùng mật viên to bằng hạt ngô. Ngậm 1 – 2 viên cùng nước Gừng trước khi đi ngủ.
* Chữa người cao tuổi bị táo bón Hồ đào nhân 60g, Hắc chi ma (Vừng đen) 30g, giã nát, trộn đều; chia ăn 2 lần trong ngày (sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ).
* Chữa đau dạ dày Thịt quả Hồ đào còn xanh (trái chưa chín, bỏ nhân) 120g, ngâm trong 240g rượu, nút kín, ngâm trong 7 – 10 ngày là dùng được. Mỗi lần uống khoảng 2g, có tác dụng giảm đau dạ dày do thần kinh.
* Chữa thần kinh suy nhược, hay quên, kém ngủ, hay ngủ mê, kém ăn Hồ đào nhân, Hắc chi ma (Vừng đen), Tang diệp  (ba vị lượng bằng nhau), giã nhuyễn, hoàn thành viên 3g; ngày uống 2 lần, mỗi lần 3 viên.
*Chữa chứng tạng táo (lên cơn thần kinh – hysteria) 
Hồ đào nhân 30g, đập vụn, hãm nước sôi, pha thêm đường vào, uống  ngày 3 lần.
* Chữa trẻ bị chốc đầu 
Hồ đào (cả vỏ) thiêu tồn tính để nguội, thêm nửa phần Kinh phấn, trộn đều, tán nhỏ, hoà với dầu Thầu dầu, bôi lên chỗ chốc đầu đã rửa sạch bằng nước Trầu không hay nước Bạch đồng nữ.
* Chữa các chứng ngứa và viêm loét ngoài da
Hồ đào xác xát vào chỗ bị bệnh hoặc Hồ đào xác sắc lấy nước đặc để rửa, mỗi ngày 3 – 5 lần;  thường sau khoảng 10 – 20 ngày là khỏi.
* Chữa nhũ ung (sưng vú) 
Hồ đào xác thiêu tồn tính, nghiền thành bột mịn, uống mỗi lần 6g cùng với rượu.
* Chữa ung thư cổ tử cung 
Lấy một đoạn cành bánh tẻ (khoảng 30cm) của cây Hồ đào, chặt nhỏ, luộc cùng với 4 quả Trứng gà. Khi trứng chín, bóc bỏ vỏ trứng, cho vào nồi nấu nhỏ lửa trong 4 giờ. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần 2 quả, liên tục trong nhiều ngày; có tác dụng điều trị ung thư, đặc biệt là ung thư cổ tử cung.

Liên hệ mua hàng

Điện thoại: 0394969435

Fax: 0394969435

Thống kê truy cập

233594
Hôm nayHôm nay63
Hôm quaHôm qua62
TuầnTuần172
ThángTháng1839
TổngTổng233594
DEBUG
Time:[0.033936977386475sec]

Joomla! Debug Console

Session

Profile Information

Memory Usage

Database Queries